Người Phụ Nữ Lớn Lên Tại Canada

Ngày Quốc Tế phụ nữ trong mắt “đứa trẻ” đến từ thập niên 60.

Trong không khí hân hoan của ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3, hãy cùng nhìn lại cuộc sống và trải nghiệm của những người phụ nữ tại đất nước lá phong xinh đẹp này. Một vài dân tộc bản địa xưa bao gồm Haudenosaunee và Iroquois đều là các xã hội mẫu hệ truyền từ đời này qua đời khác, dòng dõi thông qua người mẹ. Phụ nữ trong các xã hội này thích sự công bằng, bình đẳng, tôn trọng và có quyền tham gia vào các quyết định của cộng đồng. Điều này khác với chế độ thực dân, những người định cư da trắng xuất hiện cách đây vài trăm năm. Xã hội Canada không có nguồn gốc thổ dân, được xây dựng dựa trên chế độ phụ hệ, nơi người đàn ông nắm giữ mọi quyền lực. Quy luật này được giữ vững cho đến những năm 1960 khi phong trào Giải phóng Phụ nữ ra đời.

Để tìm hiểu về sự thay đổi của quyền phụ nữ trong suốt những năm qua. Tôi bắt đầu nghĩ đến cuộc sống riêng của mình và những người phụ nữ trưởng thành tại đất nước tôi đang sống, nơi mà quyền và vị thế của người phụ nữ đã thay đổi đáng kể trong suốt 100 năm qua.

Maureen Littlejohn – Culture Magazine's Executive Editor
Maureen Littlejohn – Culture Magazine’s Executive Editor

Canada là quê hương nhưng tôi từng sống ở nhiều đất nước khác nhau như Mỹ, Swaziland (nay gọi là Eswatini), Ghana và Việt Nam. Ở bất kỳ đâu, phụ nữ cũng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và thử thách, nhưng so với những quốc gia tôi vừa kể trên, Canada tiến bộ hơn rất nhiều. Ví dụ như ở Eswatini, tôi phải đối mặt với thái độ và luật pháp tưởng như chỉ có ở một thế kỷ xưa. Năm 2013, tổ chức phát triển quốc tế phi chính phủ Canada Crossroads International cử tôi đến Eswatini với tư cách là một tình nguyện viên. Nơi tôi làm việc có mục tiêu chấm dứt nạn bạo hành phụ nữ và giúp phụ nữ địa phương hiểu được quyền con người của họ. Cuộc chiến đó vẫn kéo dài đến ngày hôm nay chỉ để họ không bị coi là tài sản của người chồng.

Cách đây không lâu, phụ nữ Canada phải đối mặt với cuộc chiến chống lại nạn phân biệt đối xử vì tính gia trưởng. Những năm 1920, khi bà tôi đang là giáo viên của một trường học tại phía Bắc Ontario, bà và ông kết hôn khi luật hôn nhân bắt đầu có hiệu lực. Họ buộc bà phải thôi việc. Ở Canada, luật lệ này được bãi bỏ vào thập niên 50. Các quốc gia khác cũng áp dụng chúng như Mỹ và Ireland lần lượt kết thúc đạo luật này vào năm 1964 và 1973. Chỉ đến năm 1964, phụ nữ Canada mới được phép mở tài khoản ngân hàng mà không cần tới chữ ký của chồng.

Một người bà khác của tôi sinh ra tại thành phố London, nước Anh. Công việc đầu tiên của bà là làm giúp việc cho một bác sĩ và phục vụ cả gia đình ông. Sau đó bà đến Canada, gặp ông tôi và trở thành một bà mẹ, một bà nội trợ đích thực. Thời đó, dạy học, điều dưỡng, y tá và giúp việc gia đình là những công việc chính mà người phụ nữ có thể đảm đương. Nhưng một khi họ kết hôn, đi làm là điều cấm hoặc bị phản đối với những ánh nhìn không mấy thiện cảm. Cả hai bà của tôi đều là những cá nhân thông minh, tự chủ và trong khi họ vẫn dành hết tình yêu cho chồng và con, tôi tự hỏi làm thế nào họ có thể phát triển hơn nếu có cơ hội khác. Tôi có cùng thắc mắc về những người phụ nữ khác thuộc thế hệ của họ, những người lẽ ra có thể có rất nhiều đóng góp cho xã hội bên ngoài, nhưng không được phép tham gia.

Những người phụ nữ mong muốn giành lại quyền lợi cơ bản cho phái nữ đã phải đấu tranh bền bỉ và dai dẳng trong nhiều năm để giành quyền bầu cử và bà tôi may mắn là một trong những gương mặt đi đầu của buổi bầu cử cấp tỉnh và liên bang lúc bấy giờ tại Ontario. Thật tiếc vì tôi đã không hỏi họ về cảm xúc của họ lúc đó, nhưng là một đứa trẻ sinh ra vào thập niên 60, tôi không nghĩ đã có lúc phụ nữ không có một đại diện chính trị để nói lên mong muốn của mình. Mẹ tôi, theo bước chân của bà, trở thành một giáo viên mẫu giáo. Lúc đó, khi luật hôn nhân đã được dỡ bỏ, bà vẫn là giáo viên trong một vài năm sau khi kết hôn. Sau cùng bà bỏ việc và dồn sức vào việc nuôi dạy anh em tôi. Bà cũng nhận một nhiệm vụ khó khăn đó là mở một trường mẫu giáo cho những đứa trẻ bị tổn thương về tinh thần. Khi chúng tôi lớn hơn, bà quay lại dạy mẫu giáo sau đó trở lại trường để học về lão khoa và làm việc trong một khu nhà ở cao cấp. Mẹ tôi đã có một thái độ làm việc rất cầu tiến.

Sự nghiệp của bà đã từng rất rực rỡ trong những năm 1960 và 1970 khi phong trào Giải phóng Phụ nữ lần đầu tiên được phát động và có ảnh hưởng mạnh mẽ. Bà đã làm những việc mà bà ngoại tôi không thể làm được, chẳng hạn như gầy dựng nên một trường mẫu giáo. Bà đón nhận phong trào bằng tất cả khả năng, đòi hỏi phải thay đổi xã hội và bình đẳng.

Khi tôi còn nhỏ, những câu trả lời phổ biến nhất mà các cô gái đưa ra khi được hỏi họ muốn làm gì khi lớn lên vẫn là trở thành giáo viên hoặc y tá. Miễn là bạn tham gia các khóa học hữu ích và đạt được điểm số cần thiết, bạn hoàn toàn có thể chọn con đường của riêng mình. Kỹ sư? Phi công? Luật sư? Bác sĩ? Không gì là không thể.

Khác với bà, tôi được tự do lựa chọn ngành học và nghề nghiệp mà mình yêu thích. Đọc và viết luôn là đam mê lớn trong tôi vì vậy tôi chọn trở thành nhà báo. Công việc đầu tiên của tôi là làm biên tập cho một tạp chí dành cho sinh viên cả nước. Tôi thích thú việc chạy đua với thời hạn trả bài nghiêm ngặt, việc tự do lựa chọn chủ đề mà tôi nghĩ rằng nó sẽ thu hút các bạn sinh viên, và cả việc được khắc họa chân dung những người nổi tiếng trong các lĩnh vực khoa học, nghệ thuật.

Vào những năm 1980, tôi viết các bài tự do, gửi cho một số tạp chí phụ nữ được phát hành rộng rãi và cuối cùng trở thành biên tập viên của một tạp chí giải trí quốc gia. Nhiều công việc khác nhau trong nhiều năm bao gồm biên tập viên cho một tạp chí điện ảnh, làm phóng viên báo, quản lý biên tập cho vô số dự án in và trực tuyến, cùng với nhiều ấn phẩm tự do khác nữa. Tôi đã học hỏi và phát triển mình liên tục trong suốt cuộc đời làm nghề của mình và cũng cần phải dành lời cảm ơn đến nhiều người. Quan trọng hơn cả, tôi nhận ra tôi phải cảm ơn những người phụ nữ đi trước tôi. Từ đôi vai của bà và mẹ tôi, tôi đã thực sự cất cánh trong sự nghiệp của mình, điều rất khó thành hiện thực với những người phụ nữ xưa, khi họ còn phải đưa ra nhiều lựa chọn trong cuộc sống. Điều này khiến tôi vô cùng biết ơn.

Canada không phải là một nơi hoàn hảo cho phụ nữ, vẫn còn những thách thức phía trước, nhưng nó đang ngày một tốt hơn.

NHỮNG DẤU MỐC QUAN TRỌNG TRONG LỊCH SỬ NỮ QUYỀN TẠI CANADA

  • Trước năm 1899 Trước khi bị thực dân xâm chiếm, phụ nữ của First Nations đã có tiếng nói trong quá trình ra quyết định của cộng đồng.
  • 1871: Hơn 50% lực lượng lao động sản xuất cho các ngành công nghiệp nhẹ (đóng giày, in ấn, sản xuất thuốc lá) là phụ nữ và trẻ em.
  • 1876 ​​– 1877: Tiến sĩ Emily Howard Stowe, một trong những nữ bác sĩ đầu tiên của Canada và con gái của bà, Tiến sĩ Augusta Stowe-Gullen, dẫn đầu chiến dịch giành quyền bầu cử Ontario trong 40 năm
  • 1901: Phụ nữ chiếm 13,4% trong tổng lực lượng lao động (được trả lương). Những rào cản sau hôn nhân ngay lập tức đã được thiết lập – phụ nữ bị buộc phải từ chức khi kết hôn.
  • 1909: Bộ luật Hình sự được sửa đổi, theo đó hành động “bắt cóc phụ nữ” là bất hợp pháp.
  • 1914-1918: Chiến tranh thế giới thứ nhất. Một dòng chảy tạm thời làm dịch chuyển ngành dịch vụ trong nước. Thái độ đối với phụ nữ độc thân làm việc bên ngoài xã hội trở nên cởi mở hơn. Phụ nữ lần đầu tiên được tuyển dụng trong các dây chuyền sản xuất quy mô lớn như chế tạo đạn dược.
  • 1916: Phụ nữ giành được quyền bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử cấp tỉnh ở Alberta, Manitoba và Saskatchewan. Các bang khác sau đó cũng làm theo gồm co B.C. và Ontario (1917), Nova Scotia (1918), New Brunswick(1919), đảo Prince Edward (1922), Newfoundland (1925) và Quebec (1940).
  • 1918: Phụ nữ Canada (trừ thổ dân và phụ nữ châu Á) giành quyền bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử liên bang.
  • 1919: Phụ nữ có quyền giữ chức vụ tại Quốc hội Canada.
  • 1925: Đạo luật ly hôn liên bang được sửa đổi, cho phép phụ nữ và nam giới ly hôn vì những lý do giống nhau. Trước đó, phụ nữ phải chứng minh bị chồng đối xử tệ bạc hơn loài cầm thú mới được ly hôn.
  • 1939 – 1945: Chiến tranh Thế giới thứ II. Để khuyến khích phụ nữ tham gia lực lượng lao động, nhiều trung tâm chăm sóc trẻ em và các ưu đãi thuế được thiết lập (Chúng bị dẹp bỏ sau đó vào cuối cuộc chiến). Dù cho nhiều công việc trước đây do nam giới thực hiện giờ do phụ nữ đảm trách, nhưng nhiều sửa đổi trong thiết bị làm việc hay tổ chức sản xuất được nêu ra làm lý do để trả lương chênh lệch đối với nam và nữ dù cả hai cùng làm 1 nhiệm vụ.
  • Cuối những năm 1940: Phụ nữ da màu – Trung Quốc, Nhật Bản và Đông Ấn Độ – được phép bỏ phiếu ở cấp tỉnh và liên bang.
  • 1951: Ontario là nơi đầu tiên thông qua luật phải trả tiền lương công bằng.
  • Những năm 1960: Sự khởi đầu của Phong trào Giải phóng Phụ nữ. Phong trào chủ yếu gồm những phụ nữ da trắng, có học thức, những người đấu tranh cho các cải cách trong việc nghỉ thai sản có lương, trung tâm chữa trị khủng hoảng sau khi bị hiếp dâm và thay đổi luật phá thai.
  • 1960: Phụ nữ từ các dân tộc giành quyền bầu cử trong các cuộc bầu cử liên bang.
  • 1964: Phụ nữ có quyền mở tài khoản ngân hàng mà không cần lấy chữ ký của chồng.
  • 1967: Ủy ban Hoàng gia về Tình trạng Phụ nữ do Florence Bird làm chủ tịch được thành lập.
  • 1971: Chính phủ Liên bang sửa đổi Bộ luật Lao động Canada nhằm nghiêm cấm phân biệt đối xử dựa trên giới tính và thông qua mười bảy tuần nghỉ thai sản.
  • Năm 1972: Rosemary Brown trở thành người phụ nữ da đen được bầu làm thành viên Nghị viện Quốc hội.
  • 1977: Đạo luật Nhân quyền Canada (CHRA) được thông qua, cấm phân biệt đối xử trên cơ sở giới tính và đảm bảo trả công bằng nhau cho công việc tương đương.
  • 1978: Bộ luật Lao động Canada đã được sửa đổi để loại bỏ mang thai là lí do cho việc sa thải hoặc cắt giảm nhân sự.
  • 1980: Ở Nova Scotia, Alexa McDonough trở thành người phụ nữ đầu tiên lãnh đạo một đảng chính trị tỉnh.
  • 1982: Hiến chương về quyền của Canada được ban hành.
  • 1983: Luật hiếp dâm được sửa đổi, quy định  rõ mức xâm hại tình dục và xử phạt người chồng lợi dụng luật hôn nhân cưỡng hiếp vợ một cách bất hợp pháp.
  • 1989: Audrey McLaughlin, thành viên của Nghị viện của Yukon, là người phụ nữ đầu tiên được bầu làm Lãnh đạo Đảng của một đảng liên bang.
  • 2004: Phụ nữ chiếm hơn 50% dân số Canada nhưng chỉ chiếm 21% tỉ lệ trong Hạ viện.
  • 2009: Lần đầu tiên, có nhiều phụ nữ trong thị trường lao động hơn nam giới.

Nguồn: Liên minh dịch vụ công cộng của Canada,
http://psac-ncr.com/canadian-wologists-history

TRANG WEB KHÁC

Chính phủ Canada: Quyền của phụ nữ
https://www.canada.ca/en/canadian-heritage/service/rights-women.html

Bách khoa toàn thư Canada: Phụ nữ và Pháp luật
https://www.thecanadianencyclopedia.ca/en/article/women-and-the-law

This content is also available in: English

#seesomething, saysomething

Culture Magazin magazine always wants to listen and receive contributions from readers.
In case you submit articles about your ideas, interesting social events or hot news that you would like to share with us, email us at info@culturerus.com or inbox us at the FB page – https://www.facebook.com/culturemagazin.
Try our test reporter once. Quality articles will be selected and posted on Culturemagazin’s website and official social networking sites!
#seesomething, saysomething

Previous articleCanada Blooms
Next articleSi-Rô Từ Cây Phong

Discover

Bài Liên Quan

This content is also available in: English