Kim Thúy – Người “Hát” Khúc Ru Văn Hóa Việt Qua Những Trang Sách.

Kim Thúy có lẽ không còn là một cái tên xa lạ đối với người Việt Nam chúng ta, đặc biệt là người Việt tại Canada và hải ngoại. Sinh ra ở Sài Gòn năm 1968, Kim Thúy cùng gia đình rời khỏi Việt Nam và đến định cư tại Quebec, Canada năm 1979, khi mới 10 tuổi.  Là nữ nhà văn Canada gốc Việt đầu tiên được đề cử giải thưởng The New Prize in Literature 2018, nhưng khi tiếp xúc thì mới biết cô ấy là một người vui tính, sâu sắc và vô cùng khiêm tốn. Tác giả Kim Thúy chia sẻ rằng công việc viết sách đến với cô rất tự nhiên, may mắn và kì lạ. Cô bắt đầu viết ban đầu chỉ để tránh buồn ngủ khi đợi những lúc đèn đỏ, rồi vô tình được một người bạn đem cuốn sách đến nhà xuất bản. Nhưng tôi lại nghĩ, ngoài sự may mắn ra, thành công của Kim Thúy có được còn là nhờ vào tình yêu to lớn đối với tiếng Việt, tài năng cũng như tinh thần ham học hỏi của tác giả này.

Mời các bạn cùng Culture Magazin trò chuyện với nhà văn Kim Thúy để hiểu thêm về cô cũng như là con đường viết sách của nữ tác giả này.

Chị có thể chia sẻ về hành trình di dân của chị và gia đình được không?

Năm 1978, sau cuộc chiến tranh Việt Nam, gia đình tôi di cư sang Canada, lúc đó tôi mới 10 tuổi. Nhưng trước khi tới được Canada, tôi đã sống một khoảng thời gian trong trại tị nạn ở Malaysia. Tới năm 1979, gia đình tôi được chính phủ Canada chấp thuận tiếp nhận. Chúng tôi di cư đến Quebec và sống tại đây cho đến nay.

Khoảnh khắc làm chị nhớ nhất vào những ngày đầu tiên đặt chân đến Canada là gì?

Điều tôi ấn tượng nhất khi vừa đến Canada là tuyết. Lúc đó, tuyết trắng xóa phủ khắp mọi nơi. Trước đó vì sống trong trại tị nạn ở Malaysia trong môi trường bụi bặm, nên khi nhìn thấy màu trắng của tuyết ở khắp nơi, tôi nghĩ mình như đang lạc vào thế giới thần tiên, cảm giác rất là tươi mới. Quang cảnh đó cứ làm tôi nhớ mãi.

Qua những lần phỏng vấn trước, có thể thấy chị có một tình yêu to lớn với tiếng Việt. Có phải như thế không ạ?

Tôi thích tất cả các ngôn ngữ, nhưng đối với tôi, tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ, và cũng là thứ tiếng đã gắn bó với mình suốt quãng thời gian 10 năm khi còn ở Việt Nam. Đến tận bây giờ, dù đã sống lâu năm ở Canada, tôi vẫn thích nói tiếng Việt. Mỗi thứ tiếng có một nét đẹp riêng, và nó phản ánh cuộc sống, văn hóa của con người tại quốc gia đó. Tiếng Việt cũng thế. Tiếng Việt có những từ ngữ miêu tả chính xác mà tiếng Anh, hay bất cứ thứ tiếng nào khác không thể nào diễn tả được. Ví dụ như tiếng Việt mình có cụm từ “trời ơi”. Trong đó, chữ “trời” ở đây chỉ một thứ gì đó lớn hơn chúng ta, như bầu trời, và mang hàm ý cảm thán. Còn trong tiếng Anh, cụm từ “oh my god” dù có nghĩa tương tự nhưng thật ra chữ “god” lại mang hàm ý tôn giáo. Một ví dụ khác mà tôi thấy rất thích là, người miền Nam ở Việt Nam hay gọi vợ hay chồng mình là “nhà ơi” hay “mình ơi”. Đây là những cách gọi rất dễ thương mà ta không tìm thấy trong các ngôn ngữ khác. Tiếng Việt mình có thể có nhiều từ khác nhau để diễn tả nhiều cung bậc của một loại cảm xúc, như: “yêu”, “thương”, “thích”, “mến”, v.v. Nhưng tiếng Anh lại chỉ có chữ “love” và “like”. Và còn nhiều điều khác nữa cho thấy cái hay của tiếng Việt.

Khi viết cuốn Ru, chị có nghĩ là mình sẽ viết thêm một cuốn sách khác hay không?

Thực ra mọi chuyện diễn ra với công việc viết lách của tôi đều là do cuộc đời đưa đẩy, rất ngẫu nhiên. Hết chuyện này đến chuyện kia rồi hết cuốn này đến cuốn kia. Lúc viết sách, tôi cũng không nghĩ rằng sách của mình sẽ được xuất bản. Mình cứ viết thôi vì mình thích viết, nhưng có được in hay không thì là một chuyện khác.

Trong Ru, phần nào khiến chị tâm đắc nhất? Nếu dùng vài từ để miêu tả Ru, chị sẽ nói gì?

Thực ra khi viết Ru, tôi không chủ ý viết cho người khác, mà chỉ đơn giản là viết cho bản thân mình. Ru, đúng như tên gọi của nói, là một bài ru mà mẹ ru con ngủ, với những điều giản dị thường ngày. Khó để có thể nói phần nào quan trọng và khiến tôi tâm đắc nhất. Bởi vì nếu không có trang 1 thì sẽ không có được trang 10 hay 50. Tương tự như trong một bản nhạc, người ta vẫn khen đoạn này hay, đoạn kia hay, nhưng những khoảng lặng trong một bản nhạc cũng vô cùng quan trọng. Vì nó khiến cho ta nghe rõ hơn được những nốt sau. Vì vậy, mỗi trang trong cuốn sách với tôi đều có những vị trí, vai trò riêng.

Chúng ta có thể cảm nhận được những nỗi đau mà chiến tranh và lịch sử đã để lại, nhưng lại không hề thấy sự giận dữ trong cuốn sách của chị. Cách chị dùng từ đều rất nhẹ nhàng và đầy nghệ thuât. Vì sao lại như vậy?

Tôi rất đam mê viết lách và luôn thấy trong từng con chữ tồn tại nét đẹp riêng. Mặt khác, cuốn sách này tôi muốn viết về sức mạnh và cái đẹp trong con người, không phải của bản thân tôi mà là của những người tôi từng gặp gỡ trong đời. Bởi vì nội dung sách chỉ là những điều đơn giản như vậy thôi, nên câu chữ cứ tự nhiên như vậy mà hình thành.

Kim Thuy as the spoke person for the dictionary LE PETIT ROBERT

Những cuốn sách của chị đều được viết bằng tiếng Pháp nhưng những tựa đề đều được viết bằng tiếng Việt. Vì sao chị lại chọn tiếng Việt thay cho tiếng Pháp, như là Ru, Mãn, Vi? Chị có nghĩ rằng việc đặt tựa sách bằng tiếng Việt sẽ làm cuốn sách kém hấp dẫn không?

Tôi lại thấy ngược lại. Tôi rất hãnh diện để có thể giới thiệu với độc giả một chữ của tiếng Việt mình. Cứ mỗi lần như thế là một chữ mới. Như các bạn thấy trong cuốn Mãn, tôi còn để từng trang một chữ tiếng Pháp hay tiếng Anh, và có luôn được dịch bằng chữ tiếng Việt. Chúng ta thường nghĩ người ta sợ thấy những cái gì lạ, không quen, nhưng theo tôi lại ngược lại. Mình thấy cái gì không quen mình càng bị thu hút, vì mình có thể học được một cái gì đó mới. Ví dụ như nếu nói “river” thì không ai để ý đến, nhưng nếu nói là “ru” thì ai cũng hỏi nghĩa của nó là gì.

Đã có thời gian chị làm việc tại Việt Nam. Với cái nhìn của một người trở về, chị cảm thấy như thế nào? Có gì khác biệt trong trí tưởng tượng của chị hay không?

Khác nhau nhiều chứ, vì tôi sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn, nhưng khi về Việt Nam tôi ở Hà Nội. Vì vậy lúc về đây, tôi không biết gì về nơi này hết. Mọi thứ đều rất mới mẻ, và tôi phải học cách làm quen lại từ đầu, học về văn hóa, rồi đến cách dùng từ ngữ. Có một lần do vừa về Việt Nam nên tôi đã dịch từ “môi trường” thành “school of lips”, là hoàn toàn sai. Bây giờ nghĩ lại thấy thật ngớ ngẩn! Những thứ nhỏ như vậy tôi còn phải học, huống chi là những điều lớn hơn.

Chị đang ở đâu khi lần đầu biết tin mình là một trong những người có mặt trong vòng cuối của giải The New Prize in Literature? Chị cảm thấy như thế nào lúc đó?

Lúc đó tôi đang ở nhà, vừa mới mở email ra thì con tôi lại muốn ăn chuối chiên. Cháu bị tự kỉ, nên không nói được. Tôi bảo cháu đợi nhưng cháu không chịu. Vì đối với cháu, tôi không phải là ai khác, mà chỉ là má của cháu mà thôi. Nên tôi cũng không đọc được ngay. Sau khi đọc được email, tôi cảm thấy hãnh diện. Bởi tôi biết, đã có rất nhiều người ở Quebec đã bình chọn để tôi có thể vào vòng cuối đó. Có lẽ vì những độc giả của tôi thực sự thương tôi, và có mối liên hệ rất gần với tôi nên tất cả đều đi bỏ phiếu. Nó giống như là một “tsunami of love”. Tình thương của độc giả đối với tôi là một điều rất lớn, dường như là lớn hơn tất cả. Tất cả những giải thưởng rồi sẽ qua nhưng sự hiện diện của độc giả thì sẽ kéo dài.

Chị đã từng nói rằng chị rất biết ơn đến người thầy đã “tặng” chị 2 điểm 0 trong môn viết. Chị có thể giải thích vì sao hay không?

Câu chuyện này xảy ra vào năm đầu tiên vào đại học, lúc tôi 18 tuổi. Nếu không có nó thì tôi đã không cố gắng nhiều và sẽ không biết được là mình thiếu khả năng. Nhờ đó mà trong lúc viết tôi luôn cẩn thận.

Những cuốn sách của chị cũng đã được đưa vào những chương trình giảng dạy tại các trường học ở Canada và Mỹ. Đó là những cuốn sách nào? Và đó là những chuyên ngành nào?

Cuốn Mãn và Ru là hai cuốn được đưa vào giảng dạy. Cuốn Ru được dạy ở nhiều trường tại Quebec. Những cuốn sách đó được đưa vào những chuyên ngành và cấp độ khác nhau, ví dụ như văn học Pháp, hay các lớp về di dân, cũng có những lớp cho các em học về đặc điểm “identity”. Có chỗ thì lại học về người phụ nữ vì những cuốn sách của tôi nói về những người phụ nữ mạnh mẽ nhiều.

Chị chia sẻ trong một cuộc phỏng vấn khác rằng chính tác phẩm Marguerite Duras’ The Lover đã mang đến cho chị tình yêu với văn học. Vì sao cuốn sách này lại có tác động mạnh đến chị?

Đây là cuốn sách đầu tiên mà cậu tôi mua cho. Hồi đó nhà nghèo, không có tiền mua sách, nên được mua sách cho là tôi đọc cho hết, đọc từng chữ từng chữ một, rồi cả học thuộc lòng nữa. Lâu dần, cuốn sách đó giống như trở thành chính tôi vậy, nó vào trong máu tôi. Đó cũng là cuốn sách đầu tiên tôi được đọc về Việt Nam. Khi mình rời Việt Nam thì có chiến tranh và sau chiến tranh lại có những lộn xộn ở những năm đầu tiên. Rồi qua đây tôi lại đọc được một cuốn sách viết về Việt Nam theo một cách rất tình tứ, nói về một tình yêu xảy ra ở Việt Nam. Nên tôi cảm thấy sao mà yêu quá. Nó làm tôi thay đổi về cách nhìn và không còn ở trong đau đớn nữa, nên nó rất quan trọng với tôi. Ngoài ra, cách viết và sử dụng câu chữ cũng rất đặc biệt, và ảnh hưởng khá lớn đến phong cách viết của tôi.

Đã từng làm nhiều công việc khác nhau, như luật sư, người phiên dịch, thợ may và chủ một nhà hàng. Đây là những công việc mà khi nhắc lại chị vẫn cảm thấy yêu thích chứ? Vì sao? Đâu là công việc chính của chị hiện tại?

Tôi đã đóng cửa nhà hàng năm 2007. Bây giờ tôi chỉ còn tập trung vào viết. Tất cả những công việc này đều là những công việc tôi rất yêu. Có lẽ đối với tôi đó không gọi là công việc mà nó là một “đặc ân”. Bởi vì có rất nhiều người có thể viết hay hơn tôi đến triệu lần, nhưng họ không có được hoàn cảnh để cho phép họ ngồi viết thôi.

Bên cạnh những cuốn sách về chủ đề tị nạn, chị còn có cuốn sách nấu ăn tên Le Secret des Vietnamiennes. Liệu nấu ăn, ẩm thực và đặc biệt là ẩm thực Việt Nam là một điều gì đó rất quan trọng với chị hay không? Vì sao?
Credit: Quang Vu. Kim Thuy with her mom
Credit: Quang Vu. Kim Thuy with her mom

Theo như tôi nghĩ, Việt Nam mình ít khi nào nói những chữ thương yêu nhiều. Tất cả cha mẹ chúng ta thể hiện tình thương qua việc nấu ăn. Mình tới nhà bất cứ ai thì đều sẽ được hỏi là ăn chưa, chứ thường không hỏi “How are you?”. Và dù cho mình có trả lời là “ăn rồi” hay “chưa ăn” thì ba mẹ cũng vẫn sẽ đem đồ ăn ra cho chúng ta. Thành ra tất cả những cái tình thương hay sự lo lắng đều được thể hiện qua đồ ăn. Đối với tôi đồ ăn không phải là đồ ăn, nó là một cái cách của người Việt Nam mình để bày tỏ tình thương cho những người mình yêu quí. Trong cuốn sách đó tôi không nói về phở hay chả giò. Trong đó chỉ có khoảng 50 công thức nhưng phần còn lại là nói về những người “dì” và “má” của chúng ta.

Chị có dự định nào cho tương lai không?

Tôi đang tiếp tục công việc viết sách của mình. Tôi muốn viết về một chủ đề mà tôi nghĩ rằng mình phải viết và nói về vấn đề đó.

Mỗi tác giả khi viết sách đều muốn gửi gắm những thông điệp, cảm xúc cũng như niềm hi vọng của bản thân vào tác phẩm của mình. Chị muốn gửi gắm điều gì qua những cuốn sách của mình?

Tôi luôn tâm niệm một điều rằng lúc nào cũng phải để bản thân tìm kiếm để nhìn thấy những điều đẹp đẽ, dù là trong những thời điểm khó khăn, đen tối nhất. Bởi vì, đó chính là động lực để chúng ta đứng dậy và tiếp tục phấn đấu. Cuộc sống luôn không dễ dàng, vì vậy chỉ có hướng tới cái đẹp mới giúp mình sống một cuộc đời ý nghĩa.

Chị có muốn nhắn nhủ điều gì đến thế hệ trẻ hay không?

Hãy luôn lạc quan và hướng đến những điều tích cực. Đôi khi chúng ta sẽ cảm thấy mình không được may mắn, mình thất bại trong thời điểm này. Nhưng thật ra, những thử thách trước mắt lại là bài học và động lực để ta gặt hái thành công trong tương lai. Hãy tâm niệm rằng luôn tồn tại những cơ hội mới sau những khó khăn đó, do vậy cứ dũng cảm đối mặt và vượt qua, vấp ngã chỉ làm chúng ta mạnh mẽ hơn. Và hãy sống như thể mỗi ngày đều là ngày cuối cùng.

Làm thế nào để ta có thể giữ gìn văn hóa Việt Nam tại Canada?

Tôi nghĩ điều đầu tiên là phải đi về Việt Nam. Nhất định phải một lần về Việt Nam nếu mà chưa đi. Vì thực chất rằng chúng ta hay có những điều hoài nghi, nhiều khi chúng ta không hiểu được vì sao ta lại làm như thế. Nhưng đến khi về lại thì mình sẽ hiểu rằng tại sao. Lần đầu đi chung với chồng thì chồng tôi bảo phải nắm tay, chứ nếu thả ra thì sẽ không thể tìm ra tôi. Vì tất cả mọi người đều trong có vẻ giống tôi, từ gương mặt rồi vóc dáng nhỏ nhỏ. Khi ở đây chúng ta lại là “visible minority”, về đến Sài Gòn thì cảm giác như chắc phải có 1 triệu người trông giống tôi. Nên khi về Việt Nam khiến tôi nhận ra mình đến từ đâu.

Lần đầu mà tôi ngồi xuống ăn trái xoài hay dĩa gỏi, tôi cảm thấy mùi vị khác hẳn. Những món đó ta cũng có thể làm hay tìm thấy khi ở Canada, nhưng rõ ràng mùi vị vẫn không giống nhau. Thành ra để giữ cái văn hóa thì điều đơn giản nhất chính là phải về chơi, để mình “lăn lộn” trong cái văn hóa đó. Rồi tự nhiên mình sẽ tìm lại được gốc rễ ẩn sâu trong con người mình. Cũng như những bông hoa, chúng ta chỉ thấy được hoa nở nhưng không thể thấy được gốc rễ. Khi ta nghe, ta thấy được “gốc rễ” của mình thì ta sẽ biết được chúng ta từ đâu đến, tại sao ta là hoa giấy của phương Đông chứ không phải là hoa hồng của phương Tây.

This content is also available in: English

#seesomething, saysomething

Culture Magazin magazine always wants to listen and receive contributions from readers.
In case you submit articles about your ideas, interesting social events or hot news that you would like to share with us, email us at info@culturerus.com or inbox us at the FB page – https://www.facebook.com/culturemagazin.
Try our test reporter once. Quality articles will be selected and posted on Culturemagazin’s website and official social networking sites!
#seesomething, saysomething

Discover

Bài Liên Quan

This content is also available in: English