Bụt và Phật

Hồi nhỏ, tôi cũng thường nghe hay đọc những câu như:

  • Hiền như Bụt
  • Gần chùa gọi Bụt bằng anh.
  • Đi với Bụt mặc áo cà sa. Đi với ma mặc áo giấy.
  • Bụt chùa nhà không thiêng.
  • Trong truyện Tấm Cám, Bụt thường hiện ra chỉ bảo cho Tấm mỗi khi cô bị dì ghẻ hành hạ.
  • Khi Trịnh Kiểm có ý định cướp ngôi nhà Lê, cho người hỏi ý Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, thì Trạng bảo “Giữ Chùa thờ Bụt thì được ăn oản”. Từ đó Trịnh Kiểm bỏ ý định lật đổ vua Lê, giữ vua lại làm bù nhìn, còn họ Trịnh thì tha hồ ăn oản, tức là nắm hết thực quyền.

Chữ Bụt là cách đọc theo phiên âm từ chữ Buddha (đấng đã giác ngộ). Chữ Phật cũng là đọc theo phiên âm từ chữ Buddha nhưng phiên âm theo tiếng Hán là Phật – đà, rồi khi qua tiếng Việt rút gọn lại thành Phật.
Sở dĩ có sự khác biệt đôi chút như thế là vì nguồn gốc Phật giáo khi du nhập vào Việt Nam.

Từ đầu Công Nguyên, các nhà sư Ấn Độ đã theo đường biển đến Việt Nam. Nước ta lúc ấy đã bị đô hộ và nhà Hán đặt tên nước ta quận Giao Chỉ. Luy Lâu, thủ phủ của Giao Chỉ đã nhanh chóng trở thành một trung tâm Phật giáo quan trọng.

Như thế thì có thể đoán rằng, những câu ca dao tục ngữ nhắc đến Bụt, đã xuất hiện ngay từ những thế kỷ đầu tiên sau công nguyên.

Vài trăm năm sau, Phật Giáo Đại Thừa Bắc Tông mới từ Trung Hoa lan truyền xuống và lấn át dần Phật giáo Tiểu Thừa. Từ đây chữ Phật được dùng thay cho chữ Bụt và Phật giáo Đại Thừa phát triển rất nhanh ở nước ta, đạt tới thời cực thịnh là hai triều đại Lý, Trần, cho nên dần dần ít còn ai dùng chữ Bụt nữa. Chữ này chỉ còn nằm trong ca dao tục ngữ hoặc các truyện cổ tích mà thôi.

Cũng cần ghi chú một điểm đáng nhớ ở đây là: Sau khi Đức Phật tạ thế, các đệ tử của ngài đã thường xuyên hội họp và sự bất đồng đã xẩy ra giữa hai phe: Phe bảo thủ của các vị cao tăng trưởng lão, chủ trương bám sát kinh điển, giáo luật chặt chẽ. Phe thứ hai chủ trương cấp tiến, ôn hòa, khoan dung độ lượng, thu nạp chúng sinh rộng rãi. Phe thứ hai này tự xưng là Đại Thừa (cỗ xe lớn, chở được nhiều người) và gọi phe bảo thủ là Tiểu Thừa (cỗ xe nhỏ chở được ít người). Để tránh bị hiểu lầm, Hội nghị Phật giáo Quốc Tế tại Nepal năm 1956 đã đồng thanh bỏ chữ Tiểu Thừa và thay thế bằng tên gọi là Phật Giáo Nguyên Thủy.

THẦN NÔNG

Sử Trung Hoa thời thượng cổ rất phức tạp và dĩ nhiên rất khó tin. Nhưng trước khi nói chuyện Thần Nông, tưởng cũng cần nhắc lại bài học cũ tôi đã viết trước đây. Hôm nay, tôi phải nói lại vì đây là những điều căn bản mà nếu không nhớ thì mỗi khi đề cập đến nguồn gốc văn hóa Việt Hoa, chúng ta sẽ không có điểm tựa để khai triển.

Cho đến giờ này, theo các sử liệu khả tín, thì chúng ta biết chắc chắn, trên lãnh thổ gọi là Trung Hoa ngày nay, trước thời Tần Hán (Tần Thủy Hoàng và Hán Cao Tổ), đại tộc Bách Việt là lực lượng cư dân chính. Nhà Hán chỉ làm chủ một mảnh đất rất nhỏ ở lưu vực sông Hoàng Hà, tức là tuốt trên phía Bắc. Người Bách Việt sống rải rác từ lưu vực sông Dương Tử, ở các vùng Chiết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu, xuống tới Bắc Việt và Trung Việt. Bách Việt gồm nhiều nhánh nhỏ như Điền Việt, Dương Việt, Mân Việt, Đông Việt, Nam Việt, Âu Việt, Lạc Việt, v.v…

Lịch sử Trung Hoa, được ghi chép cụ thể và tương đối còn nhiều tài liệu lưu lại, thực sự chỉ bắt đầu từ thời Tam Đại tức là 3 triều đại Hạ, Thương, Chu. Có người cẩn trọng hơn, còn cho rằng chỉ từ đời nhà Chu mới rõ ràng. Còn trước đó đều mơ hồ cả!

Vị vua đầu tiên của nhà Hạ, lập nên nước Trung Hoa, là vua Vũ, hay Đại Vũ, hay Hạ Vũ, vốn là người Việt tộc. Truyền xuống nhà Thương và nhà Chu, vẫn chưa có mặt của Hán tộc. Khoảng 500 năm trước công nguyên, vua Việt Câu Tiễn (hậu duệ của vua Vũ nhà Hạ), sau khi diệt được nước Ngô, đã xưng bá, tức là thủ lãnh của tất cả các nước chư hầu hướng về Thiên tử nhà Chu. Đó là giai đoạn cực thịnh cuối cùng của Việt tộc. Rồi nước Việt ấy bị nước Sở đánh tan, con cháu vua Việt yếu dần, sống tản mát ở vùng Thiên Thai, Chiết Giang, không đoàn kết lại được nữa, cho đến khi Tần Thủy Hoàng lên ngôi thì kéo ra đầu hàng.

Sau khi Tần bị diệt, nảy sinh cuộc Hán Sở tranh hùng. Hán là Lưu Bang, từ một nước nhỏ ở phía Bắc nổi dậy, Sở là Hạng Võ, trong dòng Bách Việt, cùng với Lưu Bang ước hẹn đánh Tần rồi sau đó đánh nhau giành ngôi vị. Đây là cuộc thư hùng Hán Việt cuối cùng và Lưu Bang đã thắng, lập nên nhà Hán từ khoảng gần 200 năm trước công nguyên. Từ đó, Hán tộc mới bắt đầu làm chủ Trung nguyên, đẩy lùi Việt tộc, hoặc đi sâu xuống phía Nam, hoặc ở lại và bị đồng hóa.

Nhà Hán sau khi thống nhất đất nước, bắt đầu viết lại lịch sử, bịa đặt nhiều điều theo ý của vua cũng như theo niềm tự hào Hán tộc. Họ tạo huyền thoại, nói rằng 3 vị vua đầu tiên của Trung Hoa, gọi là Tam Hoàng, gồm có: Phục Hy, Thần Nông và Hoàng Đế. Phục Hy vẽ ra Hà Đồ và Bát Quái. Thần Nông ăn thử tất cả mọi thứ hoa trái rồi dạy cho dân trồng cấy. Còn Hoàng Đế thì lấy gạo nấu cơm và nấu cháo rồi truyền lại cho dân chúng học theo.

Sở dĩ họ nhấn mạnh đến Thần Nông dạy trồng lúa và Hoàng Đế dạy nấu cơm là vì thật ra, người Hoa không hề biết trồng lúa cho đến khi họ học được ở vùng Đông Nam Á mà điển hình là Bắc Việt. Rồi họ nhận là của họ! Nói cách khác, khi dân Bách Việt trồng lúa nước đã từ lâu thì người Trung Hoa chỉ trồng kê, mạch và các loại đậu. Bánh chưng bánh dầy, biểu tượng của lúa gạo, là đặc sản của dân Việt từ đời Hùng Vương, trước nhà Hán vài năm.

Các tài liệu cập nhật hiện nay điều tin rằng nước ta nằm trong khu vực trồng lúa nước và đúc đồng sớm nhất toàn cầu. Sau này, khi lấn chiếm xuống phía Nam, Trung Hoa học được của dân Việt cách làm nông nghiệp trồng lúa nước, cách khai thác thủy lợi, rồi tự nhận là sáng kiến của họ và họ truyền bá ngược lại cho những sắc dân phía Nam đã suy yếu. Thành ra khi nói: Việt Nam chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa cũng đúng, là bởi khi Hán tộc đô hộ Việt Nam thì Việt Nam đã suy yếu rồi. Đó là cái vòng lẩn quẩn: Xưa kia, Hán tộc học của Việt tộc. Rồi khi Hán tộc mạnh, Việt tộc yếu, thì Hán tộc dạy Việt tộc chính những điều mà họ đã học, đã lấy của Việt tộc trước đây! Thí dụ cụ thể nhất là nghề trồng lúa nước.

Như vậy Thần Nông, (tức là ông tổ nghề nông hoặc vị thần bảo vệ nông nghiệp), là một nhân vật tưởng tượng xuất phát từ phương Nam, có thể là toàn vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam chúng ta.

Sử Trung Hoa cũng gọi Thần Nông là Viêm Đế, tức là vua cai trị xứ nóng. Rồi dựa theo sử Tàu, người Việt thuở trước lại coi Viêm Đế hay Thần Nông là ông tổ thứ 4 của họ Hồng Bàng tức là vị vua đầu tiên của nước ta. Cha ông ta có lẽ vì coi Trung Hoa quá vĩ đại, lại không đủ tài liệu tra cứu nên cứ dựa theo sử Tàu, chấp nhận truyền thuyết cho rằng tổ tiên người Việt cũng xuất phát từ Trung Hoa mà ra!

Nếu xét theo cú pháp chữ Hán thì đúng ra phải gọi là Nông Thần mới đúng, giống như Hỏa Thần (Thần Lửa) hay Thủy Thần (Thần Nước). Cách gọi Thần Nông chính là viết theo cú pháp tiếng Việt.

Tóm lại, trong lịch sử Trung Hoa thì có lẽ, chỉ từ thời Tam Đại (Hạ, Thương, Chu) mới có thật. Còn trước đó, những cái tên Tam Hoàng Ngũ Đế (trong đó có Thần Nông) đều là bịa đặt cả. Cũng giống như sử Việt thì chắc chắn chỉ từ đời vua Hùng Vương (khoảng 700 năm trước công nguyên) là còn chứng tích để lại. Trước đó, chả có nhân vật nào đáng tin cậy. Ngay cả danh xưng họ Hùng cũng là một nghi vấn bởi người Việt không có họ Hùng. Có người bảo rằng, chữ Hùng là cách phiên âm của chữ Khun, danh hiệu thủ lãnh của dân tộc Bách Việt thuở trước. Người khác lại nói: Chữ Hùng là do thói quen “xưng hùng xưng bá” ở thời mà nhiều tiểu quốc đánh chiếm lẫn nhau. Thuyết thứ ba thì cho rằng chữ Hùng thật ra là chữ Lạc viết lầm, vì tự dạng hai chữ ấy giống nhau. Cho nên, đúng ra phải gọi là Lạc vương thay vì Hùng vương. Thuyết này hợp lý nên ngày nay được khá nhiều người tán đồng.

Thần Nông xuất hiện cả trong sử sách Trung Hoa cũng như Việt Nam. Nhưng dù ở đâu thì nó cũng chỉ là một cái tên hoàn toàn không có thật. Người ta dựng lên chỉ để ghi dấu sự thành tựu về nông nghiệp mà thôi.
Dựa vào truyện Chử Đổng Tử học đạo với một nhà sư Ấn Độ, có người cho rằng Phật giáo đã có mặt tại Việt Nam cả mấy thế kỷ trước công nguyên, bởi Chử Đổng Tử cũng gặp công chúa Tiên Dung là con gái vua Hùng Vương thứ 3. Nhưng điều này thì quá mơ hồ bởi chính Chử Đổng Tử cũng chỉ là một nhân vật giả tưởng, không hề có trên đời, thì nói chi đến những nhân vật phụ xoay quanh Chử Đổng Tử! Phật giáo truyền vào Việt Nam hồi đầu công nguyên là cái mốc lịch sử khả tín nhất cho đến nay.

Các nhà nghiên cứu sử cho rằng: Trong tâm thức phản kháng sự xâm lăng của Trung Hoa, cha ông ta đã đón nhận văn hóa Phật giáo một cách nồng nhiệt và cố tình lơ là văn hóa Nho giáo, bởi Phật giáo đến bằng con đường hòa bình trong khi Nho giáo đi theo vó ngựa xâm lăng. Huống chi, đời sống dân chúng ngày ấy hết sức lầm than dưới ách đô hộ, Phật giáo đã chỉ dạy con đườnggiải thoát cứu khổ, đáp ứng lòng mong mỏi của mọi người, nên được ủng hộ là điều dễ hiểu. Chỉ một thời gian ngắn, Luy Lâu đã xây được 20 bảo tháp, đào tạo 500 vị tăng và dịch được 15 bộ kinh. Thời Tam Quốc, lúc nước ta lệ thuộc Đông Ngô, vua Ngô Tôn Quyền đã cho mời nhiều nhà sư ở nước ta sang kinh đô nước Ngô, để giảng kinh cho mẹ Tôn Quyền là bà Ngô Quốc Thái.

Phật giáo truyền vào nước ta lúc ấy, trực tiếp từ Ấn Độ, là Phật Giáo Tiểu Thừa Nam Tông. Chữ Bụt được dùng thường xuyên vì chưa đi qua cách phiên âm từ chữ Hán. Và dưới mắt người dân đầu óc đơn giản thời đó, thì Bụt là vị thần toàn năng hiện diện khắp nơi, sẵn sàng cứu giúp họ khi họ cầu xin, nhất là họ sống chủ yếu bằng nghề nông quanh năm vất vả, cần cầu mưa cầu nắng cho được mùa.

This content is also available in: English

#seesomething, saysomething

Culture Magazin magazine always wants to listen and receive contributions from readers.
In case you submit articles about your ideas, interesting social events or hot news that you would like to share with us, email us at info@culturerus.com or inbox us at the FB page – https://www.facebook.com/culturemagazin.
Try our test reporter once. Quality articles will be selected and posted on Culturemagazin’s website and official social networking sites!
#seesomething, saysomething

Discover

Bài Liên Quan

This content is also available in: English