Home Con Người Bác Sĩ Quân Y Người Mỹ Gốc Việt và Câu Chuyện Tri...

Bác Sĩ Quân Y Người Mỹ Gốc Việt và Câu Chuyện Tri Ân

-

- Advertisement -

Khi mới lên 9, Bs. Mylène Trần Huỳnh và gia đình dằn lòng rời khỏi Việt Nam. Gia đình Mylène nằm trong số những thuyền nhân đầu tiên rời Nha Trang để đến với bến bờ mới. Sau khoảng thời gian ngắn tại Phillipines, cuối cùng họ đã tới thành phố Dale, bang Virgina vào năm 1976.

Bà Huỳnh gia nhập quân đội sau khi tốt nghiệp trường y năm 1985. Đó là cách bà đền đáp những ân tình mà đất nước đem lại cho bà. Bà là Đại tá đã nghỉ hưu của lực lượng thường trực và hiện đang công tác tại Trung tâm Quân Y Quốc gia Walter Reeds (Walter Reeds National Military Medical Center) tại Maryland, với vai trò cung cấp các liệu pháp tổng hợp giúp kiểm soát cơn đau và đào tạo các bác sĩ trẻ tiềm năng. Tại phòng khám tư TruPoint Health, bà tích cực khuyến khích bệnh nhân duy trì lối sống lành mạnh vì ba tin rằng đó chính là liều thuốc hữu hiệu nhất giúp phòng tránh và đẩy lùi bệnh tật. Mới đây, vị cựu Đại tá đã chia sẻ với Culture Magazin về cuộc sống của bà khi là một người Việt Nam nhập cư, bên cạnh sứ mệnh cứu chữa người bệnh tại Lực lượng Không quân Mỹ cũng như quan điểm của bà về sức khỏe và sống khỏe.

Bà rời Việt Nam khi còn rất nhỏ. Vậy bà làm thế nào để vừa duy trì sợi dây gắn bó với văn hóa quê hương, vừa thích nghi được với cuộc sống nơi xứ người?

Ba mẹ gửi chúng tôi đến học tại một trường hè Việt Nam có tên Hội Thanh niên Sinh viên Việt Nam (VYSA) ở bang Virgina. Hè nào tôi cũng tới đó học tiếng Việt và sau này thì tôi làm giáo viên ở đó. Tôi vẫn nhớ khi gia đình chúng tôi vừa đặt chân lên đất khách, ba tôi đã dặn “Phải biết giữ gìn những cái tốt của văn hóa chúng ta, chẳng hạn như tình cảm gia đình hay thái độ tôn trọng với cha mẹ và bề trên, nhưng cũng phải tiếp thu những điểm tiến bộ của văn hóa Mỹ, nơi hứa hẹn mang đến tình yêu và hi vọng”.

Bà có đặc biệt yêu mến phong tục hay truyền thống nào của Việt Nam không?

Điều mà tôi yêu thích nhất chính là mối quan hệ gia đình. Văn hóa Việt Nam rất coi trọng gia đình. Tôi yêu cái cách mà mọi người trân trọng, yêu thương và bảo vệ gia đình mình, luôn bày tỏ lòng thành kính và biết ơn tới thế hệ đi trước.

Tôi rất thích Tết Nguyên Đán. Cứ vào dịp Tết, đại gia đình chúng tôi lại quây quần bên nhau – khoảng 80 người và con số này còn tiếp tục tăng lên vì tôi ngày càng có thêm nhiều cháu trai, cháu gái. Chị họ tôi, mẹ tôi và chị em tôi lại xúng xính diện áo dài chụp ảnh, thắp hương cho ông bà tổ tiên và ăn các món truyền thống. Tôi yêu tà áo dài Việt vì nó thướt tha nhưng lại rất thoải mái, mặc kèm với quần nên đi đứng cũng tiện. Ngoài ra, tôi thích văn hóa lì xì vào dịp Tết. Dù bây giờ không được nhận lì xì nữa nhưng tôi rất thích trao phong bao đỏ cho lũ trẻ.

Việc là thế hệ người Việt nhập cư đầu tiên đã tác động như thế nào đến quyết định gia nhập ngành y và lực lượng không quân của bà?

Lớn lên ở Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh nên tôi thường xuyên thấy lính Mỹ và miền Nam. Khi còn nhỏ, cuối tuần tôi hay theo ba đến bệnh viện quân y nơi ba làm việc. Chứng kiến cảnh ba chữa trị cho những người lính, tôi thầm đồng cảm với họ. Tôi luôn kính trọng những người ấy và những điều họ đã làm. Tôi nghĩ nếu làm bác sĩ, tôi có thể giúp đỡ những con người đã hết lòng bảo vệ chúng tôi, thậm chí chấp nhận cả việc hi sinh mạng sống của họ. Nước Mỹ đã cho gia đình tôi cơ hội được làm lại từ đầu, vì vậy trở thành bác sĩ quân y là một cách để tôi tri ân và trân trọng quê hương mới.

Nhiều người tin rằng, cứ là người châu Á thì tất nhiên sẽ học giỏi. Bà đã làm gì để vừa trân trọng nguồn gốc là người châu Á nhập cư đồng thời giữ cho nguồn gốc ấy không làm lu mờ đi những thành tựu và cô gắng của bản thân?

Chị gái tôi là nhà thiết kế thời trang. Chị dám vượt lên trên những khuôn khổ truyền thống nên tôi nghĩ mình cũng có thể làm điều mà bản thân mong muốn. Ba mẹ chưa bao giờ bảo tôi theo ngành y mà chỉ mong chúng tôi hạnh phúc với sự chọn lựa nghề nghiệp của mình. Lên cao đẳng, tôi nhận ra rằng mình muốn theo đuổi khoa học và y học. Ban đầu tôi định học ngành y tá. Nhưng rồi tôi nhận ra tính cách mình thuộc dạng không muốn người ta sai gì làm nấy. Nên thay vào đó, tôi nghĩ mình nên trở thành bác sĩ. Tôi đem chuyện này nói với ba khi về thăm nhà vào kỳ nghỉ hè sau khi năm học thứ nhất kết thúc. Đến giờ tôi vẫn còn nhớ như in phản ứng của ông. Ông nói “Con là con gái, theo ngành y sẽ rất vất vả. Cứ tính chuyện chồng con thôi con ạ”.

Không biết có phải ba cố tình nói ngược để tôi thấy bị khích mà thêm phần quyết tâm hay không. Tôi chưa từng hỏi ba về điều này, và cũng không biết liệu ông còn nhớ hay đã quên buổi trò chuyện hôm đó.

Mặc dù vậy, thẳm sâu trong tim tôi vẫn luôn mong muốn được giúp đỡ mọi người. Học tiền y khoa rất vất vả, nhưng mỗi khi cầu nguyện hay ngồi thiền tôi lại lẩm nhẩm rằng mình muốn làm bác sĩ để giúp đỡ người khác. Đó chính là nguồn động lực của tôi.

Tôi thấy y khoa không chỉ là nghề mà còn là sứ mệnh vì nó đòi hỏi sự hi sinh lớn lao. Tôi dành phần lớn những năm tháng tuổi 20 ở thư viện và bệnh viện, làm bạn với kiến thức học thuật hay các khóa đào tạo. Quyết tâm theo đuổi ngành y của tôi chưa từng bị lung lay vì đó là con đường mà trái tim tôi mách bảo. Quả là một vinh hạnh khi được đối diện với một ai đó, thường là những người đang bệnh nặng, và được họ trao gửi niềm tin để chia sẻ những vấn đề của mình.

Bà có lời khuyên nào dành cho các bạn trẻ trong việc đối phó với áp lực và đáp ứng những kỳ vọng đặt lên đôi vai họ?

Tôi sẽ trả lời câu hỏi này trước tiên từ góc độ của một người mẹ, sau đó là của một người trẻ. Tôi và chồng cảm thấy thật may mắn khi được là người chỉ đường dẫn lối cho các con. Các con đều là những bản thể riêng, không thuộc sở hữu của cha mẹ. Nhiệm vụ của cha mẹ là nuôi dưỡng, tạo điều kiện để các con tìm ra lẽ sống của đời mình và theo đuổi nó. Tôi tin rằng mỗi người chúng ta có mặt trên đời này đều có lẽ sống riêng, và nếu không hiện thực hóa nó thì phần đời còn lại sẽ trở nên vô nghĩa. Nuôi các con trai khôn lớn, chúng tôi chỉ mong các con sẽ tìm được lời giải đáp cho câu hỏi mình là ai, tại sao lại có mặt trên đời này, có năng khiếu gì và làm sao tận dụng được năng khiếu đó để giúp ích cho xã hội.

Theo tháp nhu cầu Maslow, tôi biết có những khác biệt và thách thức nhất định về văn hóa. Tầng cuối của tháp là nhu cầu thiết yếu để con người tồn tại, gồm có thức ăn, nước uống và nơi trú ngụ. Các tầng phía trên đi kèm với những nhu cầu cao cấp hơn, chẳng hạn như ở Canada và Mỹ chúng ta có tự do, có cơ hội được bộc lộ bản thân. Nhiều bậc phụ huynh lớn lên trong thời kỳ khó khăn nên luôn muốn có sự an toàn. Đó là lý do vì sao nhiều người Mỹ hay Canada gốc Việt hướng con họ đi theo những con đường đã vạch sẵn, như làm bác sĩ, luật sư hay kỹ sư mới là sự lựa chọn an toàn vì như vậy bạn mới có thể lo cho gia đình mình.

Các bậc cha mẹ làm như vậy là thương con, nhưng điều này lại bắt nguồn từ nỗi sợ: họ sợ con mình sẽ có sự nghiệp không ổn định nếu theo đuổi nghệ thuật hoặc sân khấu.

Các bạn trẻ có thể thay đổi lối suy nghĩ đó bằng cách trò chuyện với cha mẹ. Việc chia sẻ với cha mẹ niềm đam mê và lĩnh vực sở trường là rất quan trọng. Các bạn trẻ cần nhấn mạnh rằng họ đang sống ở một đất nước tự do, và một phần lẽ sống của cuộc đời họ chính là được chứng tỏ bản thân mình.

Khó khăn lớn nhất mà bà gặp phải và thành tựu đáng tự hào nhất mà bà có được là gì?

Cũng giống như bao bà mẹ có công việc toàn thời gian khác, thật không dễ để tôi cân bằng thời gian dành cho gia đình và cho công việc. Tôi phải tìm cách cân bằng vai trò của một người mẹ, một người vợ, một sĩ quan không quân và một bác sĩ trong khi vẫn phải ngủ đủ giấc, ăn uống sinh hoạt lành mạnh và tập thể dục điều độ, giống như tôi phải tung hứng liên tục vậy. Nhưng tôi không coi đó là khó khăn. Thật may mắn khi tôi có một người chồng sẵn sàng hỗ trợ tôi công việc nhà và luôn ở bên ủng hộ tôi. Tôi gọi gia đình mình là “gia đình không quân.” Không chỉ riêng tôi mà tôi nghĩ cả gia đình mình đều đóng góp cho lực lượng không quân. Chồng tôi là người nấu nướng chính và chăm sóc các con. Anh ấy dạy con chơi bóng, đưa đón con đi học, giúp con làm bài tập về nhà. Nhờ có anh lo lắng chu toàn ở hậu phương mà tôi có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.

Thành tựu lớn nhất mà tôi có được chính là gia đình. Tôi đã kết hôn được 30 năm với người chồng yêu thương tôi hết mực và có một tổ ấm cho riêng mình. Tôi hạnh phúc khi luôn được là chính mình. Khi mới bước chân vào ngành y, tôi đã biết sẽ rất vất vả. Ngày nay có nhiều phụ nữ dám dấn thân trên con đường này, nhưng ở thời của tôi ngành y gần như chỉ dành cho nam giới. Ngành quân đội cũng vậy, nhưng tôi luôn cố gắng sống thật với chính mình và không để bản thân gục ngã trước những khó khăn.

Điều gì đã khiến bà gắn bó bên giường bệnh nhân sau khi nghỉ hưu ở lực lượng không quân?

Trong quân đội, cấp bậc càng cao đồng nghĩa với việc bạn càng phải làm nhiều công tác hành chính thay vì trực tiếp chăm sóc bệnh nhân. Trước khi nghỉ hưu, tôi chủ yếu đảm nhiệm vai trò chỉ đạo. Khi đã nghỉ hưu rồi, tôi cho phép mình nghỉ ngơi một khoảng thời gian, ngồi lặng yên, tĩnh tâm suy nghĩ về chặng đường tiếp theo của mình. Ký ức về những năm tháng học cao đẳng lại hiện hữu trong đầu tôi. Ngày ấy, đêm nào tôi cũng ngồi thiền và cầu nguyện “hãy giúp con trở thành bác sĩ vì như vậy con mới có thể giúp đỡ mọi người”. Ký ức ấy tìm về thôi thúc tôi hiện thực hóa nguyện ước năm xưa. Khi tôi nhớ ra rằng mình đã từng tự hứa với bản thân như vậy, mọi thứ trở nên thật dễ dàng.

Bà kết hợp châm cứu trong thực hành khám chữa bệnh, mặc dù châm cứu được coi là “liệu pháp thay thế” trong nhiều nền y học châu Á. Đâu là nguồn cảm hứng để bà thực hiện điều đó?

Ba tôi chính là nguồn cảm hứng. Khi còn học phổ thông, tôi từng làm việc tại phòng khám của ba, ở đó ba tôi cũng thực hành châm cứu. Tôi hay ngồi ở quầy lễ tân quan sát các bệnh nhân tới khám: người thì đi bằng nạng, người thì ngồi xe lăn, người lại phải cầu cứu khung đi bộ hoặc đai nịt lưng, ai nấy cũng lom khom. Bước ra khỏi phòng khám, mọi người đều cảm thấy dễ chịu hơn rất nhiều, đôi khi còn không cần dùng đến cây nạng. Ba tôi kể khi còn là bác sĩ phục vụ trong quân đội miền Nam Việt Nam, ba thấy các thầy thuốc châm cứu thậm chí còn làm tốt vai trò của mình hơn là bác sĩ. Chính vì vậy, ba đã học châm cứu ngay sau khi đặt chân lên đất Mỹ.

Khi mới đảm nhận vị trí bác sĩ gia đình tại căn cứ Không quân Hope, tôi được giao nhiệm vụ chăm sóc rất nhiều phi công, sĩ quan không quân và thành viên phi hành đoàn bị hành hạ bởi những cơn đau nhức. Nếu tôi kê thuốc cho họ uống, họ sẽ không được phép bay. Chúng tôi gọi đó là DNIF, Duty Not Including Flying, mà chẳng phi công nào muốn như vậy cả. Bệnh nhân lúc nào cũng hỏi tôi “có cách nào chữa trị mà không phải uống thuốc không bác sĩ?”

Câu hỏi ấy khiến tôi nhớ tới kỹ thuật châm cứu. Tôi đã chứng kiến bước phát triển của liệu pháp này nhưng ở trường y người ta lại chẳng bao giờ đề cập đến nó. Trong đầu tôi không còn chút ý niệm gì về nó cả, vì vậy tôi bèn xin phép sĩ quan chỉ huy đi học một khóa về châm cứu. Dù được cấp trên đồng ý nhưng tôi lại phải tự chi trả tiền học. Sau khi kết thúc khóa học, tôi trở lại vị trí công tác nhưng chưa được cấp phép thực hành châm cứu ngay. Nhưng trong môi trường quân đội hay ở đâu cũng vậy, nếu làm tốt từng việc nhỏ thì dần dần bạn sẽ được cấp trên tin tưởng. Là một đại úy trẻ vừa kết thúc thời gian thực tập nhưng tôi xung phong đảm nhiệm vai trò dẫn dắt Ủy ban HIV và đội Sơ cấp cứu và làm rất tốt nhiệm vụ được giao. Khi tôi đề xuất được thực hành châm cứu, chỉ huy của nhóm tôi đã đồng ý vì ông từng được trị bệnh bằng phương pháp này trong thời gian được cử đến Nhật Bản làm phi công. Thời điểm ấy là năm 1996, và tôi đã thực hành châm cứu suốt từ đó cho tới nay. Quân đội Mỹ ngày nay đánh giá rất cao tác dụng của châm cứu vì đây là liệu pháp hữu hiệu đối với những cơn đau nhức. Khủng hoảng thuốc giảm đau opioid đang diễn ra mạnh mẽ trên khắp đất Mỹ, nhưng may thay quân đội Mỹ đã bắt đầu coi trọng những tác dụng mà châm cứu đem lại. Ngày nay, rất nhiều y sĩ được cấp phép thực hành châm cứu tổng hợp hoặc nhĩ châm, có nghĩa là châm vào huyệt trên loa tai nhằm giảm đau nhanh chóng.

Quan điểm của bà về sống khỏe là gì? Y học phòng tránh phù hợp với nghề của bà ra sao?

Tôi tin rằng cơ thể người có khả năng tự chữa lành bệnh tật, nhưng nó đòi hỏi một tâm trí khỏe mạnh, một tâm hồn khỏe mạnh và một lối sống lành mạnh. Trong liệu trình thiết kế cho bệnh nhân, tôi kết hợp các yếu tố dinh dưỡng, luyện tập, kiểm soát căng thẳng và ngủ đủ giấc nhằm giúp bệnh nhân có lối sống lành mạnh hơn. Bệnh tật nói chung, đặc biệt là các bệnh mãn tính, không phải tự nhiên qua một đêm mà có. Nó là hệ quả của nhiều tháng, nhiều năm cơ thể gắng gượng chống chọi với mầm bệnh nhưng bất thành.

Phần lớn căn nguyên của những căn bệnh mãn tính của bệnh nhân của tôi nằm ở lối sinh hoạt hàng ngày của họ – điều mà bản thân họ nhận thức được hoặc không. Đó có thể là do căng thẳng quá mức, ít vận động, lạm dụng đồ ăn nhanh hay ngủ không đủ giấc. Tôi tin rằng việc duy trì lối sống lành mạnh sẽ giúp cơ thể tăng cường khả năng tự chống chịu, thậm chí là đẩy lùi bệnh tật. Tại phòng khám của mình, tôi gặp rất nhiều bệnh nhân khá giả, họ sẵn sàng dùng toàn bộ tài sản mà mình có để đổi lấy sức khỏe. Theo tôi, sức khỏe quan trọng hơn của cải tiền bạc rất nhiều, và để có sức khỏe tốt người ta cần phải đầu tư về thời gian cũng như xây dựng ý thức trong sinh hoạt hàng ngày.

Vừa là mẹ, là giáo sư và đồng thời là bác sĩ, chắc hẳn bà rất bận rộn. Bà làm thế nào để duy trì lối sống lành mạnh trong khi phải đảm nhiệm rất nhiều vai trò như vậy?

Tôi làm được như vậy là nhờ có một người chồng tuyệt vời. Bên cạnh đó, tôi biết cân bằng những ưu tiên của mình. Tôi có rất nhiều sở thích và mối quan tâm, nhưng hiện giờ ưu tiên số một của tôi là gia đình và con cái, và tôi muốn dành nhiều thời gian nhất có thể cho tổ ấm của mình. Có lẽ bạn biết mô hình “những tảng đá lớn” của Stephen Covey, nó khuyên chúng ta nên cân nhắc về những ưu tiên trong cuộc sống. Gia đình, phục vụ bệnh nhân, thể dục thể thao, ăn uống lành mạnh và bồi đắp tâm hồn là những “tảng đá lớn” trong tôi. Đó là những ưu tiên hàng đầu, và một khi bạn làm tốt những điều nhất ấy thì mọi thứ còn lại sẽ ổn cả thôi.

Vy Trần

This content is also available in: English

This content is also available in: English